Huy hiệu ghi “Xây dựng một cuộc nổi dậy tích cực” và “Hành động”

Manifesto 25: Khung hành động cho một cuộc nổi dậy tích cực trong giáo dục

Manifesto 25

Khung hành động cho một cuộc nổi dậy tích cực trong giáo dục

Ký tuyên ngôn

Ngày 1 tháng 1 năm 2025

Các hệ thống giáo dục của chúng ta đang không đáp ứng được nhu cầu của một thế giới biến đổi nhanh chóng. Được thiết kế để giải quyết vấn đề của quá khứ, chúng tiếp tục duy trì bất bình đẳng, bóp nghẹt sáng tạo và không chuẩn bị cho người học trước sự phức tạp, bất định của hôm nay và ngày mai. Mười năm trước, Manifesto 15 kêu gọi hành động táo bạo để hình dung lại việc học trong một thế giới đang đổi thay. Từ đó đến nay, lời lẽ ngày càng lớn nhưng thực tế thay đổi rất ít. Những triết lý cũ vẫn không đáp ứng được đòi hỏi của hiện tại và tương lai.

Văn bản này đưa ra một khung gồm các nguyên tắc nhằm phá vỡ sức ì và sự tự mãn đã kìm hãm người học. Chúng ta muốn tháo dỡ các mô hình lỗi thời, thách thức những cơ cấu quyền lực đã bám rễ và xử lý các vấn đề hệ thống đang duy trì bất công, giới hạn tiềm năng và bóp nghẹt đổi mới. Mục tiêu là khơi nguồn cho những hệ sinh thái năng động, bao trùm và lấy người học làm trung tâm, để mọi người có thể phát triển với tư cách thành viên đầy đủ của một thế giới gắn kết.

Hy vọng thôi chưa đủ. Hành động phải thay cho lời nói. Chờ cải cách và trò chuyện nhã nhặn không thể đáp lại tính cấp bách của thời điểm này. Văn bản này là lời kêu gọi một cuộc nổi dậy tích cực: cùng tháo dỡ mô hình cũ, tạo mô hình mới và đồng thiết kế một hệ thống giáo dục phục vụ mọi người học, giải phóng tiềm năng con người, giúp chúng ta không chỉ sống sót mà còn phát triển trong một thế giới vượt ngoài sức tưởng tượng. Điểm khởi đầu là cùng nhau trao thực quyền cho người học ở vị trí trung tâm.

Con đường phía trước đòi hỏi lòng can đảm, sức sáng tạo và cộng đồng. Chúng ta phải hình dung lại giáo dục như một sức mạnh năng động giúp mỗi người học góp phần tạo dựng một thế giới thịnh vượng, công bằng và bền vững.

Những điều chúng ta đã học được

  1. “Tương lai đã ở đây — chỉ là nó chưa được phân bổ đồng đều.” (William Gibson, dẫn trong Gladstone, 1998). Giáo dục tụt lại sau các lĩnh vực khác vì chú trọng quá khứ thay vì tương lai. Ta dạy lịch sử văn chương nhưng bỏ qua tương lai của nghệ thuật kể chuyện; nhấn mạnh toán học truyền thống nhưng không tạo ra toán học mới để định hình ngày mai. Điều được gọi là “cách mạng” trong giáo dục đã xuất hiện rải rác ở nhiều nơi. Muốn có thay đổi có ý nghĩa, ta phải học từ những nỗ lực ấy, chia sẻ kinh nghiệm và chấp nhận rủi ro cần thiết để hướng thực hành về tương lai.
  2. Trường học 1.0 không thể dạy những đứa trẻ 3.0, 4.0, 5.0… Trường học của thời đại công nghiệp không đáp ứng được kỷ nguyên số và kết nối. Ta phải xác định lại mình giáo dục để làm gì, vì sao và hệ thống phục vụ ai. Giáo dục bắt buộc đại trà dựa trên mô hình thế kỷ XIX nhằm tạo ra công dân có thể trở thành công nhân và viên chức biết phục tùng; đó không thể còn là đích đến trong thời hậu công nghiệp. Hãy giúp người học trở thành những người đổi mới, dùng trí tưởng tượng và sáng tạo để tạo ra kết quả mới cho xã hội. Không thể giải quyết thách thức hôm nay bằng tư duy cũ, và tất cả chúng ta cùng chịu trách nhiệm xây dựng tương lai tốt đẹp cho mọi người.
  3. Trẻ em cũng là con người. Mọi học sinh phải được đối xử và tôn trọng như những con người có quyền và trách nhiệm phổ quát được thừa nhận. Các em phải có tiếng nói thực chất trong những lựa chọn về việc học, gồm cách trường được vận hành, cách và thời điểm học, cùng những mặt khác của đời sống hằng ngày. Đó mới là bao trùm đúng nghĩa. Người học ở mọi lứa tuổi cần được tự do chọn cơ hội và cách học phù hợp, miễn là lựa chọn ấy không xâm phạm quyền tự do tương tự của người khác (phỏng theo EUDEC, 2023).
  4. Trường học phải là nơi trú ẩn có độ an toàn hiếm có và sự tôn trọng đặc biệt. Trí tuệ xã hội, cảm xúc và quan hệ phải nằm ở trung tâm, vượt lên trên điểm thi và khuôn phép học thuật cứng nhắc, để nuôi dưỡng sự đồng cảm, tự nhận thức và giải quyết xung đột mang tính xây dựng. Được phép bộc lộ sự mong manh trong không gian an toàn tạo nên kết nối chân thực với bản thân và người khác. Nền tảng quan hệ ấy giúp người học đi qua các góc nhìn khác nhau và phát triển trong thế giới liên kết. Đây không phải năng lực tùy chọn mà là nền móng của trưởng thành cá nhân và tiến bộ chung.
  5. Việc học đích thực đến từ tự do, không phải từ bị đẩy vào một con đường đã định sẵn. Mô hình thầy trên, trò dưới làm nghẹt tò mò và bào mòn động lực nội tại, biến học tập thành bài tập phục tùng. Thay vào đó cần những cách làm ngang hàng, hợp tác, coi trọng học và dạy lẫn nhau cùng trách nhiệm được chia sẻ. Học sinh phải được quyết định khi nào và bằng cách nào mình thực hiện bước nhảy, biết rằng thất bại không phải điểm cuối mà là một bước tự nhiên và luôn có thể thử lại. Giáo viên giúp người học đưa ra quyết định cân bằng. Thất bại thuộc về quá trình học; cố tình tạo ra thất bại thì không.
  6. Cùng học, cùng dạy. Giáo dục phát triển khi ai cũng vừa là người dạy vừa là người học. Phá bỏ những ngăn cách tuổi tác nhân tạo, trường học có thể thành trung tâm sống động nơi trẻ em, cha mẹ, người cao tuổi và cộng đồng trao đổi kỹ năng, hiểu biết và sáng tạo trong một hệ sinh thái tri thức mở. Học sinh lớn hướng dẫn bạn nhỏ và nhận lại góc nhìn mới; cha mẹ và lãnh đạo cộng đồng mang kiến thức đời thực, được trí tò mò của trẻ làm phong phú. Quá trình tương hỗ giữa các thế hệ này tôn vinh trí tuệ, thắt chặt quan hệ xã hội và trao cho mọi người năng lực tạo dựng tương lai có ý nghĩa.
  7. Việc học diễn ra trong các hệ sinh thái, không phải trong những chiếc hộp. Thời khóa biểu cứng nhắc và lớp học tách biệt biến giáo dục thành giao dịch, bỏ qua bản chất suốt đời và đan xen của nó. Trường học chính quy chỉ nên là một sợi trong tấm thảm gồm gia đình, cộng đồng, nơi làm việc và mạng số. Khi kết hợp các bối cảnh ấy, ranh giới giữa học chính thức và phi chính thức mờ đi, tri thức và kỹ năng được lưu chuyển. Người học thích nghi với nhiều vai trò, làm việc xuyên thế hệ và đón nhận hiểu biết từ nguồn bất ngờ. Thoát khỏi những chiếc hộp, giáo dục nuôi trí tò mò và tự tin để người học phát triển trong thế giới luôn đổi thay.
  8. Niết bàn nằm ở sự hòa quyện giữa năng lực tự chủ hành động và niềm tin vào năng lực bản thân. Khi người học và nhà giáo có cả năng lực tự định hướng con đường của mình và niềm tin rằng mình có thể thành công, giáo dục vượt mục tiêu truyền thống để đạt mục đích cao nhất: giúp mỗi người sống trọn vẹn và tạo ảnh hưởng. Nhà trường phải chủ động vun đắp cân bằng này bằng cách gắn học tập theo lựa chọn với cơ hội thường xuyên để xây dựng và thể hiện năng lực. Sự hòa quyện ấy đem lại cảm hứng và tầm nhìn cần thiết để tạo ra tương lai.
  9. Nhà giáo là người sáng tạo, cộng tác và đổi mới, không phải bánh răng trong một cỗ máy. Thu hẹp họ thành người thi hành phương pháp cũ làm tổn hại cả người học lẫn tương lai giáo dục. Cần trân trọng nhà giáo như những cá nhân có nhu cầu, khát vọng và tiềm năng sáng tạo riêng. Chuyển đổi giáo dục nghĩa là trao quyền cho họ làm người đồng sáng tạo, cùng niềm tin, công cụ và nguồn lực để dẫn dắt đổi mới. Công nhận họ là chuyên gia và đối tác tạo ra môi trường nơi cả thầy và trò phát triển, nuôi dưỡng tò mò, khả năng thích ứng và sức bền.
  10. Đừng coi trọng điều ta đo được; hãy đo điều ta coi trọng. Đánh giá phải tiếp sức chứ không gieo sợ hãi. Sự ám ảnh với kỳ thi hệ trọng tiếp tay cho lo âu, thu giáo dục về học thuộc và gạt tư duy phản biện, giải quyết vấn đề sang bên. Việc sùng bái thi cử đã thành trọng tài sai lạc của thành công, lan truyền so sánh và nỗi sợ kém thành tích; ý tưởng hứa hẹn bị loại vì khó đo, còn trường học tạo ra người lãnh đạo không biết đọc dữ liệu có phê phán. Hãy chấm dứt thi cử bắt buộc hệ trọng và chuyển nguồn lực sang học tập đích thực cùng sự trưởng thành có ý nghĩa, đa chiều.
  11. Dùng công nghệ sai là triệu chứng, không phải vấn đề. Công nghệ tự nó không giải quyết gì, nhưng dùng có suy xét có thể mở lối học và sáng tạo mới. Trường học thường mua thiết bị mà không đổi cách dạy: thay bảng đen bằng bảng thông minh, sách bằng máy tính bảng nhưng vẫn giữ bài học cũ. Chẳng khác nào lắp nhà máy hạt nhân vào xe ngựa. Nguồn lực khổng lồ đổ vào quản lý phần cứng và phần mềm, trong khi bỏ lỡ cơ hội thay đổi học gìhọc thế nào, lãng quên “phần mềm tư duy” bên trong con người và việc dùng công cụ có mục đích học tập rõ ràng.
  12. Việc học vẫn xảy ra dù ta có chú ý hay không. Phần lớn việc học là vô hình, diễn ra ngoài dạy học chính thức qua tò mò, thử nghiệm và trải nghiệm không định trước, gần với hít thở hơn là lập kế hoạch. Đừng ép mọi việc học vô hình phải lộ ra; hãy tạo nơi tin vào dòng chảy tự nhiên của nó. Nơi làm việc, trường học và cộng đồng cần coi trọng khám phá, mở cơ hội tìm tri thức và tôn trọng việc học không bao giờ được đo hay báo cáo. Không bị phô bày, việc học giữ được tính chân thực và con người phát triển theo cách có ý nghĩa với họ. Chính niềm tin, không phải giám sát, thúc đẩy đổi mới và trưởng thành.
  13. Tri thức lớn lên từ ý nghĩa; quản lý phải hỗ trợ chứ không thay thế quá trình ấy. Dữ liệu, thông tin và tri thức thường bị lẫn lộn. Trường tưởng mình truyền tri thức nhưng nhiều khi chỉ kiểm tra trí nhớ. Dữ liệu ghép lại thành thông tin; tri thức xuất hiện khi con người tạo ý nghĩa từ thông tin; đổi mới bắt đầu khi họ hành động theo điều mình biết và tạo giá trị mới. Trường có thể quản lý thông tin và hỗ trợ kiến tạo tri thức, nhưng không thể làm thay việc tạo nghĩa trong tâm trí học sinh. Cố thay thế sẽ lại thu tri thức về thông tin.
  14. Chuẩn hóa giết chết sáng tạo và đổi mới. Giáo dục một cỡ cho tất cả tạo đầu ra đồng nhất, phán xét thành công bằng thước đo hẹp và chia tri thức thành môn tách biệt, che khuất sự phức tạp của đời thực. Nó hạn chế thử nghiệm và tư duy táo bạo. Đổi mới cần bỏ sự đồng nhất cứng nhắc để dùng cách tiếp cận thích ứng, lấy người học làm trung tâm, coi trọng tìm tòi mở và làm việc xuyên lĩnh vực. Sáng tạo nảy nở khi học sinh theo đuổi mối quan tâm, trao đổi góc nhìn khác nhau và giải quyết vấn đề thật.
  15. Tri thức lớn lên nơi ranh giới các mạng lưới giao nhau. Sư phạm của thế kỷ này không đến như bản thiết kế hoàn tất mà biến đổi khi con người kết nối. Học tập lớn lên khi ta đi qua và mở rộng mạng lưới, khi tri thức người này gặp tri thức người khác để tạo hiểu biết mới. Trải nghiệm chung tạo tri thức xã hội và tăng cường hiểu biết tập thể. Giáo dục phải giúp xây dựng công cụ, năng lực và các dạng hiểu biết gồm thành thạo số, nhận thức văn hóa, khả năng đi trong mạng lưới, để người học đặt tài năng vào bối cảnh và đón thách thức bằng tự tin, sáng tạo.
  16. Bằng cấp lỗi thời ngay từ thiết kế. Nhiều chương trình cố định quanh ngành ổn định và đích đến rõ ràng nên già cỗi rất nhanh, có khi trước khi người học xong năm đầu. Văn bằng truyền thống không theo kịp biến đổi và không phản ánh chiều sâu kỹ năng, thành tựu thực tế. Cần chuyển mạnh sang phân quyền và hệ thống công nhận mới, coi trọng sáng tạo, giải quyết vấn đề, tác động thật hơn thời gian ngồi lớp. Người học cần cách công nhận linh hoạt, thay đổi cùng họ và ghi nhận trưởng thành, đóng góp trong thế giới biến động.
  17. Hệ thống giáo dục nào dung thứ bất bình đẳng đều đồng lõa với bất công. Hệ thống được dựng để giữ bất bình đẳng làm tất cả thất bại. Trường học phải vượt khỏi lời nói tượng trưng về đa dạng để tháo dỡ rào cản hệ thống. Chương trình cần khuếch đại tiếng nói bị gạt ra bên lề; mọi người học phải được nhìn thấy, lắng nghe và trân trọng. Công bằng và bao trùm không phải phần thêm tùy chọn mà là nền móng của một hệ thống công bằng, bền vững.
  18. Hành động của công dân toàn cầu biến trải nghiệm cá nhân thành tác động ở quy mô hành tinh. Tinh thần công dân toàn cầu bắt đầu trong đời sống địa phương và lớn lên qua tiếp xúc có ý nghĩa với các cộng đồng đa dạng, nối góc nhìn cá nhân với thách thức toàn cầu. Giáo dục phải chuẩn bị người học bằng đồng cảm liên văn hóa, trách nhiệm đạo đức, giải quyết vấn đề hợp tác và hiểu biết hướng tới hành tinh, nối hành động địa phương với giải pháp toàn cầu, tôn trọng quyền cá nhân lẫn tập thể. Khi gắn năng lực hành động cá nhân với công cụ chung, người học có thể hành động ở cả địa phương và toàn cầu để tạo tương lai công bằng, bền vững.
  19. Tương lai thuộc về những người mê tri thức, dân công nghệ, người chế tác, kẻ mộng mơ và các knowmad. Knowmad là người học, thích ứng và sáng tạo trong nhiều hoàn cảnh. Không phải ai cũng sẽ hoặc nên thành doanh nhân, nhưng thiếu kỹ năng khởi tạo vẫn là bất lợi lớn. Giáo dục cần phát triển các entreprenerd: người dùng tri thức chuyên biệt để mơ, sáng tạo, chế tác, khám phá và học; dẫn dắt công việc kinh doanh, văn hóa hay xã hội; chấp nhận rủi ro; coi trọng quá trình ngang với kết quả và không để sai lầm hay thất bại ngăn mình.
  20. Thực tại không phải điều tùy chọn. Phớt lờ thực tại chung dẫn đến hỗn loạn. Chủ nghĩa hậu hiện đại bị vũ khí hóa bóp méo sự thật và né trách nhiệm, đe dọa giáo dục lẫn xã hội. Không có thực tại chung, tư duy phản biện sụp đổ, niềm tin biến mất, hợp tác trở nên bất khả. Giáo dục phải trực diện với xuyên tạc, đứng trên bằng chứng đồng thời dùng tưởng tượng giải quyết vấn đề mới. Người học cần công cụ để chất vấn bóp méo, bác bỏ trốn tránh trách nhiệm và đối diện phức tạp bằng lòng can đảm trí tuệ.
  21. Nền giáo dục phớt lờ hành tinh là nền giáo dục không có tương lai. Thảm họa khí hậu đang đến gần. Chương trình bỏ qua trách nhiệm gìn giữ môi trường vừa thiếu sót vừa vô trách nhiệm. Giáo dục phải chủ động định hình tương lai học sinh và thế giới quanh họ. Người học không chỉ nghiên cứu môi trường mà phải đồng tạo giải pháp và tích cực bảo vệ hành tinh. Hãy đưa kỹ năng cho tương lai, năng lực hành động trước thách thức lớn và hiểu biết hướng tới hành tinh vào quá trình học linh hoạt, nối đổi mới với cam kết cá nhân về bền vững.
  22. Chúng ta có thểphải xây dựng văn hóa tin cậy trong trường học và cộng đồng. Vấn đề sẽ tiếp diễn nếu giáo dục vẫn bám vào sợ hãi và ngờ vực. Nhà giáo cần khả năng cùng nhau chuyển đổi giáo dục, với các cộng đồng tham gia và sự tham gia thực chất cùng những cộng đồng ta phục vụ. Cần một lý thuyết hành động mới đặt niềm tin ở trung tâm để học sinh, trường học, chính quyền, doanh nghiệp, cha mẹ và cộng đồng cùng tạo nên tương lai giáo dục mới.
  23. Hãy phá luật, nhưng trước hết phải hiểu rõ vì sao. Hệ thống trường học dựa trên vâng lời, cưỡng ép tuân thủ và tự mãn, làm suy yếu sáng tạo của học sinh, nhân viên và tổ chức. Được bảo phải nghĩ gì dễ hơn tự mình suy nghĩ. Ta cần hỏi công khai và có nhận thức siêu nhận thức: xem xét mình đã tạo ra gì và bước tiếp theo nên là gì. Điều đó phá sự uể oải thể chế và thói quen vô thức; chỉ khi ấy, những đứt gãy có lý khỏi hệ thống mới thách thức được hiện trạng và tạo tác động thật.
  24. Hoạt động xã hội là không gian nơi việc gỡ bỏ điều đã học có thể nảy nở. Nó có nhiều hình thức: bất tuân dân sự bất bạo động, biểu tình đường phố, trình diễn nghệ thuật hay phản kháng bằng hành động biểu đạt. Dưới mọi hình thức, nó thách thức hiện trạng, tái thiết từ nền tảng, dạy sức bền, năng lực hành động và lòng can đảm, giúp con người đối đầu với hệ thống hỏng, kể cả giáo dục. Nhà giáo nên xem hoạt động xã hội là công cụ học tập cốt lõi, biến người học thụ động thành những chủ thể chủ động định hình thế giới.
  25. Hãy chất vấn mọi thứ. Bắt đầu từ chính bản tuyên ngôn này. Chấp nhận mù quáng nuôi dưỡng tự mãn. Những người cùng học cần không gian an toàn để kiểm nghiệm ý tưởng một cách phê phán, kể cả ý tưởng trong văn bản này. Tư duy phản biện và đối thoại cởi mở xây dựng tự nhận thức và giúp mọi người tiếp tục định hình sự tiến hóa của dạy và học.

Các vấn đề giáo dục tồn tại vì thay đổi đe dọa quyền lực đã bám rễ và phá vỡ hiện trạng. Suốt nhiều thế kỷ, hệ thống đặc quyền chống lại những sự thật khó chịu như thuyết nhật tâm, sinh học tiến hóa hay biến đổi khí hậu do con người gây ra. Giáo dục cũng bị giữ chặt bởi ưu tiên cũ. Nhận thức thôi chưa đủ; cần can đảm phá rào cản, từ chối tự mãn và xây hệ thống phục vụ mọi người học, mọi cộng đồng.

Không ai làm được việc này một mình. Tương lai học tập cần liên minh giữa nhà giáo, người học, gia đình, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng. Kết hợp thế mạnh khác nhau, ta có thể tháo dỡ hệ thống cũ, thiết kế lại chương trình và tạo môi trường nơi công bằng, sáng tạo, tò mò phát triển. Mọi hành động đều có giá trị: hình dung lại cách dạy, xây niềm tin trong trường, hay vận động chính sách đặt việc học ở trung tâm như một quyền suốt đời.

Cùng nhau, ta có thể xây dựng hệ thống giáo dục giúp mọi người học phát triển trong thế giới khó đoán. Đây là lúc hành động táo bạo, tập thể và có mục đích.

Tương lai đã ở đây. Điều ta xây hôm nay có ý nghĩa.

Từ đây, chúng ta đi đâu?

Build a Positive Rebellion: Create New Education Futures mở rộng các ý tưởng của Manifesto 25 qua những bài luận, gợi mở thách thức và suy ngẫm thực tiễn đi sâu vào từng nguyên tắc.

Có bản tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha tại PositiveRebellion.org.

Khám phá cuốn sách

Những người ký đầu tiên

Chữ ký của những người ký đầu tiên

Chúng tôi là:

John Moravec (principal author, USA), Gustavo Andrade (Mexico), Chris Bagley (UK), Constanze Beyer (Germany), Paola Boccia (Argentina/Germany), Edwin De Bree (Netherlands), Vivian Breucker (Germany), Alexandra Castro Ferrada (USA), María Mercedes Civarolo (Spain/Argentina), Cristóbal Cobo (Chile), Antonio L. Delgado Pérez (USA), Claudia Dikmans (Germany), Albus Duc Hoang (Vietnam), Kristina House (Canada), Silvia Enriquez (Argentina), Martine Eyzenga (Netherlands), Tomas C. Ferber (Germany), Richard Fransham (Canada), Gustavo Garcia Lutz (Uruguay), Peter Gray (USA), Christel Hartkamp (Netherlands), Pekka Ihanainen (Finland), Marcel Kampman (Netherlands), Bob Kartous (Czech Republic), Kateřina Kolínková (Czech Republic), Kamila Koutná (Czech Republic), Florian Kretzschmar (Germany), Nicola Kriesel (Germany), Luis R. Lara (Argentina), Diego Leal (Colombia), Carlos Lizárraga Celaya (USA), María Cristina Martínez-Bravo (Ecuador), Juraj Mazák (Slovakia), Alejandra Mendoza Garza (Mexico), Farid Mokhtar Noriega (Spain), María Mercedes Moravec (USA), Daniel Navarrete (Colombia), Varlei Xavier Nogueira (Brazil), Alejandro Núñez Urquijo (Colombia), Hugo Pardo Kuklinski (Argentina/Spain), Alejandro Pisanty (Mexico), Lucas Potenza (Argentina), Noemi Pulido (Argentina), Luis Napoleón Quintanilla (El Salvador), Dinant Roode (Netherlands), Javier José Simon (Argentina), Alison Snieckus (USA), Max Ugaz (Peru), Paloma Valdivia Vizarreta (Spain), David Vidal (Spain), Evangelos Vlachakis (Greece), Tim Weinert (Germany), Monika Wernz (Germany), và Alex Wiedemann (Germany).

Thêm tên bạn vào tuyên ngôn

Hãy tham gia cùng những người đã ký và lan tỏa thông điệp với #manifesto25.

Đang tải danh sách người ký…

Các tổ chức ủng hộ

Bản tuyên ngôn được các tổ chức sau ủng hộ bằng chữ ký tập thể cho các nguyên tắc và tầm nhìn của nó:

Tổ chức muốn bày tỏ ủng hộ và được ghi tên trong tuyên ngôn vui lòng liên hệ hello@educationfutures.com để góp tiếng nói tập thể cho phong trào.

Liên hệ

Gửi email đến hello@educationfutures.com.

Xin cảm ơn!

Chúng tôi chân thành cảm ơn mọi người đã đóng góp hiểu biết và ý kiến để văn bản có được hình hài hôm nay. Đặc biệt cảm ơn những người ký đầu tiên, nhất là những người từng ký Manifesto 15; phản hồi sớm và sự ủng hộ bền bỉ của họ có vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa tầm nhìn này.

Tài liệu tham khảo và đọc thêm

Autor, D., Mindell, D., & Reynolds, E. (2023). The work of the future: Building better jobs in an age of intelligent machines. MIT Press.

Burns, T., & Gottschalk, F. (Eds.). (2019). Educating 21st century children: Emotional well-being in the digital age. OECD Publishing. Xem nguồn

Cobo, C., & Moravec, J. W. (2011). Aprendizaje Invisible: Hacia una nueva ecología de la educación. Barcelona: Laboratori de Mitjans Interactius / Publicacions i Edicions de la Universitat de Barcelona.

Collins, H. M. (2010). Tacit and explicit knowledge. University of Chicago Press.

EUDEC. (2023). EUDEC guidance document. European Democratic Education Community. Xem nguồn

Freire, P. (2018). Pedagogy of the oppressed (50th anniversary ed.). Bloomsbury Academic.

Gladstone, B. (Producer). (1998, November 30). The science in science fiction [Radio broadcast episode]. In Talk of the Nation. Washington, DC: National Public Radio. Xem nguồn

Gray, P. (2023). Self-directed education: Unschooling and democratic schooling. Oxford University Press. Xem nguồn

Hartkamp-Bakker, C., & Martens, R. (2024). True choice and taking ownership of life: A qualitative study into self-determination in Sudbury model schools. On the Horizon, 32. Xem nguồn

hooks, b. (1994). Teaching to transgress: Education as the practice of freedom. Routledge.

Illeris, K. (2017). How we learn: Learning and non-learning in school and beyond. Routledge.

Mackey, T. P., & Jacobson, T. E. (2019). Metaliterate learning for the post-truth world. American Library Association.

Moravec, J. W. (Ed.) (2013). Knowmad Society. Minneapolis: Education Futures. Xem nguồn

Moravec, J. W. & Martínez Bravo, M. C. (2023). Global trends in disruptive technological change: Social and policy implications for education. On the Horizon, 31(3/4). Xem nguồn

OECD. (2021). Beyond academic learning: First results from the survey of social and emotional skills. OECD Publishing. Xem nguồn

Polanyi, M. (1958). Personal knowledge: Towards a post-critical philosophy. University of Chicago Press.

Robinson, K. (2016). Creative schools: The grassroots revolution that’s transforming education. Penguin Books.

Sahlberg, P. (2021). Finnish lessons 3.0: What can the world learn from educational change in Finland?. Teachers College Press.

World Economic Forum. (2023). The future of jobs report 2023. World Economic Forum. Xem nguồn

Zhao, Y. (2012). World class learners: Educating creative and entrepreneurial students. Corwin Press.

Hãy biến tuyên ngôn này thành của bạn

Hãy nhận những nguyên tắc này làm của mình, thêm ý tưởng và chia sẻ tương tự với cộng đồng. Tác phẩm được công bố theo giấy phép Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International (CC BY-NC 4.0).